Wednesday, May 13, 2015

Tướng pháp về nốt ruồi



Theo Mới

Những dấu chấm trên làn da hoặc chìm trong da (tàn nhang hay bã chè) có hình dáng hơi tròn, hoặc tròn, có thể nhỏ như đầu đinh ghim hoặc lớn bằng đầu nén hương. 

Loại này, tướng học gọi là nốt ruồi chết.

Những dấu chấm nơi cao hơn mặt da một cách tự nhiên, có thể lớn bằng đầu nén nhang hoặc nhỏ như hạt tấm. Loại nốt ruồi nổi này được gọi là nốt ruồi sống.

Về mặt màu sắc, nốt ruồi bất kể là loại sống hay chết có thể có những màu sắc sau đây:

Màu xám tro
Màu lạt đen
Màu vàng đậm như hoàng thổ.
Mầu hồng lạt.
Màu đỏ sậm như son tàu.

Theo tướng pháp thì chỉ có hai màu đen huyền và đỏ sậm như son tàu mới coi là quý. Những loại màu sắc khác hoặc tạp sắc đều chủ về hung hiểm, phá hại.

Về vị trí xuất hiện thì nốt ruồi nên hiện ở những chỗ động, chẵng hạn ở má, gần miệng, cằm, vì ở những bộ vị đó, nhất là phái đẹp có nốt ruồi son hoặc mụn có hình dáng vừa phải sẽ làm tăng duyên dáng của nụ cười, ánh mắt.

Xuất hiện ở những bộ vị tĩnh như sóng mũi, trán làm giảm vẻ mỹ quan của khuôn mặt.

Về cách đoán sự tốt xấu căn cứ vào vị trí của nốt ruồi, ta cần để ý là nốt ruồi son nên vừa phải là ỏ những chỗ khuất kín trên khuôn mặt hoặc mọc ở sau lớp quần áo, thường có ý nghĩa tốt, con trai lại là xấu.

Cách giải đoán nốt ruồi

Căn cứ vào Ma y tướng pháp toàn thư của Ma y; Liễu Trang, Thần tướng toàn biên của Quốf Lập Trung Ương Đồ Thư Quán Tàng Bản và Nữ tướng thuật của Lý Xuyên lão nhân, các nhà tướng học này đều đồng ý rằng sự giải đoán cát hung của nốt ruồi có thể tóm tắyt vào ba điểm chính:

Bản chất nốt ruồi chìm hay nổi

Màu sắc (tốt hay xấu)

Vị trí xuất hiện (thích đáng hay trái chỗ).

Trong những điểm trên, vị trí nốt ruồi đóng vai trò chính, còn cách cấu tạo và màu sắc chỉ chó giá trị thứ yếu.

Nốt ruồi tại phía trên của tai chủ thọ cách, ở phía dưới thùy châu hay sau tai chủ hiếu thảo, cũng như trên dưới lông mày đều tốt cả.

Nốt ruồi ở Ấn đường (khoảng giữqa chỗ hai lông mày) chỉ về ý chí bạc nhược, làm việc có đầu, không có đuôi.

Nốt ruồi mọc ở Sơn căn (khoảng giữa hai mắt) chủ về hình khắc, trai khắc vợ, gái khắc chồng.

Nốt ruồi mọc ở sống mũi chủ về nghèo khó, thân thể bệnh tật.

Đàn ông dễ bị đàn bà hiếp chế, đàn bà dễ bị chồng làm khổ.

Nốt ruồi mọc ở ngạch giác thời hình khắc phụ mẫu, tại huyệt Dịch mà có nốt ruồi thời đi xa bất lợi.

Nốt ruồi này mọc chuẫn đầu (đầu mũi) chủ về khó tránh khỏi hao tốn tiền bạc và cũng có ý nghĩa là chỉ về háo sắc mà tốn của (chung cả nam lẫn nữ). Đối với đàn bà cho biết là số có ông chồng độc hại, gian hiểm.

Nốt ruồi ở miệng, môi chỉ ham ăn và có ăn luôn luôn.

Nốt ruồi mọc ở lệ đường thời khắc tử tức hình phu thê.

Nốt ruồi mọc ở lưỡng quyền, chỉ quyền uy của mình bị người khác chiếm đoạt, hoặc vì người mà mang lụy vào thân khiến cho quyền uy của mình bị tổn hại.

Nốt ruồi mọc ở cung phu thê từ (dưới mắt tới tai) chỉ về đàn ông thường hay trai gái, nếu không lấy thêm vợ bé thì cũng lăng nhăng. Đàn bà khó tránh khỏi tái giá.

Nốt ruồi son mọc ở dưới bàn chân, đàn bà sanh con quý tử, đàn ông quý hiền hiển đạt về đường công danh.

Nốt ruồi mọc ở dương vật hay âm hộ chủ về dâm nhưng sẽ sinh con quý tử.

Giai thoại về nốt ruồi

Thời nhà Minh bên Tàu, có anh học trò nghèo tên Mạc Nhân Địch thi cử nhiều lần mà vẫn không có duyên với khoa bảng nên cuộc sống rất ư là cùng cực. Sau phải xin làm người giữ sổ sách cho một nhà cự phú họ Lưu trong vùng. Họ Lưu có đứa tớ gái tên Thu Nguyệt, mặt mũi xấu xí đen đũi, đã quá tuổi cặp kê mà chẳng có ma nào tới hỏi cưới.

Sau một thời gian làm việc, ông cự phú họ Lưu nhận thấy Mạc Nhân Địch tính nết thuần nhã, tận tâm với công việc, không quản sớm khuya. Mặc Nhân Địch, tuổi trung niên, góa vợ từ lâu, muốn đi thêm bước nữa, nhưng chỉ ngặt một nổi không có tiền nên đành ở vậy chờ thời. Cảm thông được sự khắc khoải của Mạc Nhân Địch, nên cự phú họ Lưu mới đề nghị gã Thu Nguyệt cho họ Mạc làm kế thất.

Kể từ ngày kết ước xe tơ cùng Thu Nguyệt, Mạc Nhân Địch cảm thấy thoải mái, hai vợ chồng tỏ ra tương đắc. Một hôm, trong buồng the, Mạc Nhân Địch mới nhận thấy vợ mình tuy xấu xí, nhưng thân hình trọng hậu, đặc biệt trên người có hai nốt ruồi son ở hai bên bụng và một nốt ruồi son nữa ở ngay khoảng giữa cặp nhũ hoa. Tướng pháp gọi là nốt ruồi đối xứng ở bụng là âm dương nhật nguyệt, còn nốt ruồi ở ngay giữa hai vú là song long tranh châu.

Từ ngày lấy Thu Nguyệt làm vợ, gia nghiệp của Mạc ngày một hưng vượng. Lúc đó, ông chú Mạc làm thư lại ở dinh Tổng đốc Lưỡng Quãn về thăm nhà thấy Mạc Nhân Địch có văn tài mà làm công cho người khác thật không có triển vọng tiến thân nên khuyên Mạc theo mình về phủ Tổng đốc giúp việc văn mạc. Thế là Mạc Nhân Địch từ giã quê hương cùng với chú về làm việc ở đô thị.

Nhân dịp các sắc dân thiểu số thuộc hai bộ lạc Miêu, Dao tại vùng Lưỡng Quãng làm loạn, Tổng đốc thấy binh sĩ biên phòng dẹp mãi không yên, thỉnh thoảng một vài đồn bị quân phiến loạn tấn công khiến phải di tản chiến thuật, nên ông mới ra lệnh cho Tuần phủ tiến cử nhân tài đi tiểu trừ.

Ông chú của Mạc Nhân Địch bấy giờ làm việc dưới quyền tuần phủ mới nhân dịp này xin thượng cấp điền tên Mạc Nhân Địch vào sổ tuyển dụng. Tổng đốc Lưỡng Quãng khi thấy tên Mạc Nhân Địch (nếu chỉ phát âm mà không viết chữ) có nghĩa là không ai đối địch được, nên hẵn người này phải có võ nghệ siêu quần, binh nghiệp xuất chúng nên lập tức cho làm chức Tổng binh điều động binh mã tiến vào đất địch để dẹp loạn.

Chú cháu họ Mạc vốn không rành việc binh đao, được lệnh trên sai không dám trái, nhưng trong lòng không khỏi khiếp đãm. Vì vậy, khi tới gần đất địch, thì cho dừng quân hạ trại không dám tiến đánh vội.

Từ khi nghe tin quân của triều đình kéo tới, các Chúa động Miêu va Dao, ra lệnh quân sĩ dưới quyền chuẫn bị nghinh chiến. Nhưng sau khi quân tiền thám về thông báo cho biết vị Tổng binh của triều đình chỉ là một nho sĩ không biết võ nghệ, chưa một lần cầm quân thì sinh ra khinh thường, triệt binh lui về đóng không thèm phòng bị, suốt ngày say sưa, chén tạc chén thù.

Về phần Mạc Nhân Địch, nhận được lệnh khẩn cấp của Tổng đốc thúc giục phải giải quyết chiến trường ngay lập tức. Khi nhận lệnh, Mạc Nhân Địch bụng tuy run, nhưng đã lỡ phóng lao thì phải theo lao, nên quyết phải tiến binh vào đất địch.

Nhân lúc địch quân trễ nãi xuất kỳ bất ý, họ Mạc xua quân bất ngờ, quân Miêu, Dao chống đỡ không nổi, tán loạn hàng ngũ, bị quân của Mạc thừa thắng truy kích tới tận sào huyệt. Kết quả quá sức tưởng tượng, mong đợi, cả hai vị chúa động đều bị họ Mạc bắt sống giải nạp cho triều đình, dập tắt vĩnh viễn mọi cuộc phản loạn của các dân tộc thiểu số trong vùng.

Nhờ chiến công hiển hách trên, Mạc Nhân Địch được nhà vua phong chức Bình Khẩu Đại tướng quân, sắc chỉ về Quãng Châu thiết lập phủ đệ Đại Tướng Quân vô cùng tráng lệ.

Mạc Nhân Địch vốn là văn nhân mà lại hiển đạt về võ nghiệp, kể từ ngày kết tóc xe tơ cùng Thu Nguyệt làm vợ nên lòng rất thắc mắc không rõ nguyên do bèn cùng vợ giả làm thương nhân tới nhà  một vị thầy tướng nổi danh nhất vùng, đó là Trương Thiết Khẩu để coi tướng.

Họ Trương xem kỹ tướng của Mạc Nhân Địch rồi lắc đầu nói:

"Tướng các hạ rất thường, ngũ quan tuy ngay ngắn nhưng khí sắc lạnh lẽo, may mắn lắm thì chỉ đủ ngày hai bữa ăn mà thôi".

Xem đến tướng Thu Nguyệt, thầy tướng nói tiếp: "Tướng của bà là tướng quý cách ẩn táng kiêm cả sách "Song long tranh châu" lẫn "Âm dương nhật nguyệt" nên vượng phu, ích tử, quý đến cực phẩm phu nhân".

Nghe thầy tướng Trương Thiết Khẩu đoán tướng hai vợ chồng Mạc Nhân Địch mới vỡ lẽ là sở dĩ mình được vinh hiển kể từ ngày lấy Thu Nguyệt phần lớn là nhờ ở tướng cách Vượng phu của vợ hỗ trợ.
 

No comments:

Post a Comment